English Sơ đồ website Góp ý website
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bảo hiểm y tế
Sơ kết 01 năm thực hiện đề án BHYT
(12/04/2012)

Tại kỳ họp lần thứ 7, khóa VII (từ ngày 07 - 09 tháng 12 năm 2010), Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-HĐND về việc thông qua Đề án Phát triển BHYT tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 (gọi tắt là Đề án); ngày 23 tháng 12 năm 2010, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã có Quyết định số 2425/QĐ-UBND về việc ban hành Đề án; ngày 08/3/2011, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 05/KH-UBND về việc triển khai thực hiện Đề án. Qua một năm tổ chức thực hiện Đề án, căn cứ kết quả sơ kết của các huyện, thị xã, thành phố; UBND tỉnh báo cáo sơ kết 01 năm tình hình thực hiện Đề án BHYT.

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG:

Trong năm 2011, cả nước nói chung, tỉnh An Giang nói riêng đã gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; tình hình lạm phát, giá cả, lãi xuất ngân hàng tăng cao; kinh tế vĩ mô chưa ổn định; đặc biệt, tỉnh ta đã bị ảnh hưởng do lũ lụt lớn, kéo dài; tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp ..., gây không ít khó khăn cho sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân trong tỉnh.

Tuy nhiên, với sự quyết tâm, nổ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân đã cùng nhau chung sức, chung lòng, vượt qua khó khăn, thử thách, đưa kinh tế - xã hội tỉnh nhà tiếp tục phát triển ổn định theo hướng tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, an sinh xã hội được bảo đảm, trong đó có phần đóng góp tích cực của ngành y tế nói chung và lĩnh vực bảo hiểm y tế (BHYT) nói riêng.

II. KẾT QUẢ SAU 01 NĂM THỰC HIỆN ĐỀ ÁN:

1. Công tác triển khai Đề án:

Sau khi HĐND tỉnh có Nghị quyết thông qua Đề án, UBND tỉnh đã ban hành văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án; phân công, phân cấp các sở, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ tổ chức triển khai các nội dung có liên quan trong Đề án. Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh được giao là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh theo dõi tình hình tổ chức triển khai thực hiện Đề án.

Căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, UBND tỉnh đã giao chỉ tiêu về phát triển số người tham gia BHYT (Kế hoạch số 05/KH-UBND) cho các huyện, thị xã, thành phố (gọi tắt là UBND huyện).

Căn cứ vào Kế hoạch triển khai Đề án của UBND tỉnh, hầu hết UBND các huyện đã tiến hành tổ chức xây dựng Nghị quyết trình HĐND huyện, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, xây dựng hệ thống chỉ tiêu cụ thể giao cho UBND các xã, phường, thị trấn (gọi tắt là UBND xã).

Sở Y tế, đã triển khai công tác đầu tư xây dựng cơ bản, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư trang thiết bị, xây dựng đề án chống quá tải các bệnh viện…

Sở Y tế, BHXH tỉnh đã chủ động phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước tỉnh, các cấp, các ngành có liên quan xây dựng kế hoạch dự toán kinh phí từ ngân sách nhà nước mua BHYT cho các đối tượng theo Luật BHYT, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh vận động hỗ trợ mua BHYT cho nhóm người cận nghèo; tổ chức việc cấp phát thẻ BHYT kịp thời đến các nhóm đối tượng.

BHXH tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức phát triển đối tượng tham gia BHYT trong học sinh, sinh viên; phối hợp với các đoàn thể xây dựng và ký các kế hoạch liên tịch vận động phát triển đối tượng tham gia BHYT trong đoàn viên, hội viên và nhân dân.

Sở Y tế đã phối hợp với BHXH tỉnh tổ chức đợt cao điểm tuyên truyền nhân ngày “Bảo hiểm y tế Việt Nam” (ngày 01 tháng 7 hằng năm); lồng ghép nội dung của Đề án vào chương trình “Bảo hiểm xã hội - Ngôi nhà chung” phát định kỳ trên Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang; in và phát hành hằng trăm ngàn tờ gấp về BHYT học sinh, cung cấp tài liệu tuyên truyền cho Đài Phát thanh huyện, xã; phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Tư pháp tập huấn đội ngũ báo cáo viên pháp luật về BHYT cho các đồng chí ở các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức cơ sở Đảng tỉnh, huyện…

2. Một số kết quả chủ yếu đạt được:

a) Kết quả thực hiện mục tiêu, lộ trình, chỉ tiêu phát triển đối tượng:

Về cơ bản đã thực hiện được mục tiêu định hướng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX về “Mục tiêu chiến lược bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế…, thực hiện BHYT toàn dân, tiến tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân…”; hoàn thành chỉ tiêu phát triển số lượng đối tượng tham gia theo lộ trình trong năm 2011; triển khai tương đối đồng bộ các giải pháp về quản lý, đầu tư cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho các đối tượng tham gia BHYT; đảm bảo cân đối các nguồn kinh phí hỗ trợ cho các nhóm đối tượng tham gia BHYT theo quy định…

 

Kết quả thực hiện số người tham gia BHYT theo lộ trình cả tỉnh:

Đơn vị tính: người.

Đối tượng tham gia

Dân số

trung bình

Chỉ tiêu năm 2011

Số đã

tham gia

% so chỉ tiêu

1. Trẻ em dưới 6 tuổi

271.000

271.000

214.740

79,24

2. Người già trên 80 tuổi

41.000

41.000

35.780

87,27

3. Người có công và bảo trợ XH

22.000

22.000

20.530

93,32

4. Người thuộc hộ nghèo

119.000

216.000

184.900

85,60

5. Người thuộc hộ cận nghèo

124.000

124.000

105.800

85,32

6. Học sinh, sinh viên

349.000

244.000

205.800

84,34

7. Đối tượng CB, CC, VC, người LĐ…

79.000

79.000

79.800

101,05

8. Đối tượng chỉ tham gia BHYT bắt buộc

14.000

14.000

22.420

160,14

9. Đối tượng BHYT tự nguyện nhân dân

1.132.000

155.000

275.600

177,81

Tổng cộng

2.158.000

1.166.000

1.145.400

98,23

 

Ghi chú: Trẻ em dưới 6 tuổi đã được cấp thẻ BHYT là 214.740, số còn lại là 56.260 chưa có thẻ BHYT nhưng được dùng giấy khai sinh, chứng sinh để khám chữa bệnh hưởng chế độ BHYT tại các cơ sở khám chữa bệnh.

Tính đến cuối năm 2011, số người tham gia BHYT là 1.145.400 người, chiếm 53,1% dân số trong tỉnh, thấp hơn Nghị quyết của HĐND tỉnh 20.600 người tương ứng tỷ lệ 1,7% (chỉ tiêu kế hoạch 1.166.000 người, tỷ lệ 54,02% dân số);

Tổng thu BHYT gần 505 tỷ đồng đạt 103% kế hoạch năm, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ mua BHYT là 250 tỷ đồng, chiếm 49,5%;

Số người khám chữa bệnh (KCB) BHYT bình quân ước đạt hơn 3.000.000 lượt người/năm; tổng chi trả khám chữa bệnh BHYT gần 440 tỷ đồng/năm; cân đối được quỹ KCB BHYT cả năm 2011.

Kết quả thực hiện chỉ tiêu phát triển đối tượng theo địa bàn huyện:

Đơn vị tính: người

Đơn vị

Chỉ tiêu

Thực hiện

Đạt % KH

1. Thành phố Long Xuyên

151.779

161.823

106,62

2. Thị xã Tân Châu

93.334

78.745

84,37

3. Thị xã Châu Đốc

60.676

52.115

85,89

4. Huyện An Phú

96.634

91.927

95,13

5. Huyện Châu Phú

133.303

133.295

99,99

6. Huyện Châu Thành

92.520

81.265

87,83

7. Huyện Chợ Mới

187.254

185.256

98,93

8. Huyện Phú Tân

114.554

98.744

86,20

9. Huyện Tịnh Biên

65.704

71.354

108,60

10. Huyện Thoại Sơn

98.141

86.995

88,64

11. Huyện Tri Tôn

71.931

84.055

116,85

12. BHXH tỉnh trực tiếp phát hành

 

19.826

 

Tổng số

1.165.829

1.145.400

98,23

 

Có 03 huyện hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch là Tri Tôn, Tịnh Biên, Long Xuyên; 03 huyện đạt trên 95% là Châu Phú, Chợ Mới, An Phú; 05 huyện đạt từ 84%  đến 89% là Thoại Sơn, Châu Thành, Phú Tân, Châu Đốc, Tân Châu.

b) Kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức khám bệnh, chữa bệnh:

b1) Đầu tư xây dựng cơ bản:

Tiếp tục triển khai thực hiện các công trình xây dựng cơ bản tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong tỉnh. Thực hiện nghiêm túc chủ trương rà soát, đình, hoãn, giãn tiến độ thi công một số hạn mục theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ.

Thực hiện Đề án Xây dựng, cải tạo, nâng cấp các bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện theo Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg, tổng vốn đầu tư năm 2011 là 56 tỷ đồng, khối lượng thực hiện 68,132 tỷ đồng, đạt 121,6% kế hoạch.

Thực hiện Đề án đầu tư, xây dựng, cải tạo, nâng cấp các bệnh viện tuyến tỉnh theo Quyết định số 930/QĐ-TTg, khối lượng thực hiện 91,8 tỷ đạt 103,9% kế hoạch.

b2) Phát triển nguồn nhân lực:                                                                                                                             

 Củng cố tổ chức hoạt động tuyến y tế cơ sở, chỉ đạo các bệnh viện đa khoa huyện tăng cường bác sỹ cho các trạm y tế xã chưa có bác sỹ.

Xây dựng và triển khai kế hoạch “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và nâng cao y đức tại các đơn vị sự nghiệp y tế giai đoạn 2011-2015”.

Phối hợp với Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Y dược Cần Thơ mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng về quản lý dược, chuyên khoa nhi, siêu âm, cử nhân y tế công cộng ; tham mưu UBND tỉnh thực hiện chủ trương xét chọn đào tạo theo địa chỉ các chuyên ngành bác sỹ, dược sỹ và cử nhân điều dưỡng…

b3) Đầu tư trang thiết bị y tế:

Tổ chức đấu thầu mua sắm trang thiết bị chuyên môn cho các đơn vị y tế trực thuộc từ nguồn vốn sự nghiệp, vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, Nha học đường…; thực hiện các gói thầu năm 2010 chuyển sang của dự án Hỗ trợ y tế Vùng Đồng bằng sông Cửu Long mua sắm trang thiết bị cho Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang, Bệnh viện Tim mạch, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh theo đúng kế hoạch năm 2011 của Dự án.

 

c) Công tác quản lý Nhà nước về BHYT trên địa bàn tỉnh:

Sở Y tế phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh thực hiện tốt vai trò tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực BHYT, ban hành các văn bản quản lý theo thẩm quyền, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHYT…

Chấn chỉnh công tác phục vụ, nâng cao y đức người thầy thuốc, quản lý dược, đấu thầu thuốc, tổ chức KCB BHYT tại các tuyến trong tỉnh…;

3. Đánh giá chung:

a) Mặt được:

Nhận thức của nhân dân về chính sách BHYT được nâng lên, một bộ phận khá lớn trong nhân dân đã tự giác tham gia, đề cao tính cộng đồng chia sẻ rủi ro trong KCB.BHYT.

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho các nhóm đối tượng chính sách xã hội, bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, người cận nghèo, học sinh sinh viên… mua thẻ BHYT; các chính sách về dược, về dịch vụ y tế được thanh toán BHYT tiếp tục được mở rộng, thu hẹp dần khoảng cách về quyền lợi được hưởng giữa người KCB.BHYT và các đối tượng khác.

Về cơ bản, tỉnh đã tổ chức thực hiện hoàn thành được các chỉ tiêu chủ yếu của Đề án; các cơ quan ban ngành, địa phương trong hệ thống chính trị đã có những chuyển biến tích cực trong việc tổ chức triển khai các giải pháp đã đề ra trong Đề án, hầu hết UBND các huyện đã xây dựng Kế hoạch, xác lập chỉ tiêu phát triển BHYT cụ thể giao cho UBND các xã, phường, thị trấn trực thuộc; số người tham gia và thụ hưởng chính sách BHYT ngày càng đông, chính sách BHYT đã góp phần to lớn vào việc thực hiện chính sách an sinh xã hội tại địa phương.

Công tác tổ chức KCB BHYT tại các tuyến có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất được ưu tiên đầu tư, nguồn nhân lực được bổ sung, tăng cường…đã giúp cho công tác phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.

Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành có liên quan trong tổ chức vận động bà con tham gia, giám sát bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong khám chữa bệnh, kiểm soát tình hình sử dụng quỹ BHYT, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHYT…trên địa bàn được thực hiện thường xuyên, được xây dựng thành quy chế, kế hoạch phối hợp cụ thể.

b) Mặt tồn tại, hạn chế:

Cơ chế chính sách về BHYT tuy có nhiều đổi mới, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là về cơ chế tài chính, áp lực thu, chi có mặt tác động tiêu cực đến chất lượng KCB BHYT, nhiều cơ sở KCB nặng đầu tư cho hoạt động KCB theo hình thức dịch vụ, thu phí cao để cân đối có lãi, dẫn đến việc lạm dụng chỉ định kỹ thuật cận lâm sàng và tạo ra khoảng cách lớn giữa người KCB BHYT và người KCB theo hình thức dịch vụ;

Việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng BHYT cho UBND các xã, có nơi còn mang tính hình thức; qua khảo sát, kiểm tra, nhiều lãnh đạo chủ chốt của địa phương không nắm được chỉ tiêu được giao, các giải pháp tổ chức thực hiện còn khoán trắng cho ngành Y tế và BHXH.

Công tác vận động, tuyên truyền còn nhiều hạn chế, số người tham gia BHYT trên địa bàn thấp so với tiềm năng, đạt dưới mức bình quân chung của cả nước (cả nước đạt bình quân 63%, tỉnh đạt 53% dân số). Tình trạng khám bệnh vượt tuyến, trái tuyến chưa được kiểm soát; các nhóm đối tượng tham gia chưa được bảo vệ quyền lợi một cách công bằng, số người tham gia BHYT tự nguyện phần đông là người có bệnh, tạo ra áp lực chi phí rất lớn (trung bình đóng 1 chi 4), buộc các nhóm khác có số đông người tham gia (trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, cận nghèo…) phải điều tiết hỗ trợ, không có nguồn kết dư để tái đầu tư hỗ trợ cho các cơ sở KCB BHYT, nâng quyền lợi được hưởng của đối tượng…

Thực hiện chủ trương đình, hoãn tiến độ thi công các công trình theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, nên việc triển khai xây dựng, phát triển, cải tạo, nâng cấp nhiều công trình y tế chậm theo kế hoạch đã đề ra.

Tình hình quá tải diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các cơ sở KCB BHYT trong tỉnh, dẫn đến chất lượng KCB, tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân của đội ngũ cán bộ ngành y tế một số nơi chưa tốt.

Tình hình kinh tế khó khăn, một bộ phận nhân dân không có khả năng mua thẻ BHYT; việc điều tra xác định nhóm đối tượng hộ gia đình nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình thực hiện chậm, nên không nhận được sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo Luật BHYT.

Công tác tham mưu, đề xuất của ngành Y tế và BHXH còn hạn chế, chưa đề ra được các giải pháp có tính đột phá để đẩy nhanh tiến độ phát triển đối tượng tham gia BHYT cũng như khắc phục các bất cập trong tổ chức KCB BHYT.

c) Nguyên nhân:

­  Nguyên nhân kết quả đạt được:

Trước hết là quyết tâm của cả hệ thống chính trị được cụ thể hóa thành Nghị quyết, chủ trương, kế hoạch cụ thể từng cấp, từng ngành.

Thứ hai là, chính sách BHYT từng bước đi vào cuộc sống, thể hiện tính chất ưu việt, trở thành nhu cầu tất yếu của cuộc sống, được đông đảo nhân dân quan tâm tham gia.

Thứ ba là, nhà nước đã dành một nguồn kinh phí lớn hỗ trợ nhân dân mua thẻ BHYT, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các dịch vụ y tế tiến bộ, tạo ý thức phòng xa trong bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của bản thân và cộng đồng.

Thứ tư là, có sự nỗ lực rất lớn của đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế và ngành BHXH các cấp trong tỉnh, thực hiện tốt chủ trương cải cách hành chính, đề cao ý thức phục vụ nhân dân.

Thứ năm là, công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành chặt chẽ, đồng bộ, kịp thời đề ra các giải pháp để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đề án, giải quyết được những khó khăn phát sinh từ thực tiễn cuộc sống.

­  Về tồn tại, hạn chế có các nguyên nhân:

Thứ nhất, việc triển khai thực hiện Đề án một số nơi thiếu nghiêm túc, mang nhiều yếu tố hình thức, nội dung chưa bám sát kế hoạch của UBND tỉnh.

Thứ hai, công tác vận động tuyên truyền còn hạn chế, thông tin về đến cơ sở còn ít, trong khi chính sách về BHYT có nhiều thay đổi.

Thứ ba, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực của ngành y tế và BHXH phát triển chưa tương xứng với tốc độ phát triển đối tượng tham gia, đã bộc lộ nhiều bất cập trong quản lý, phục vụ.

Thứ tư, một số chính sách, chế độ trong lĩnh vực BHYT còn bất cập, chưa có cơ chế tài chính rõ ràng, chưa tạo được sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm đối tượng, chưa tạo được nguồn lực để phát triển tuyến y tế cơ sở; nhiều quy định về sử dụng thuốc, dịch vụ, tuyến điều trị… chưa phù hợp với thực tiễn, chậm điều chỉnh, nên thiếu sự hấp dẫn thu hút người tham gia.

Thứ năm, vai trò quản lý nhà nước trong thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHYT một số nơi thực hiện chưa tốt, chưa có giải pháp hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của người tham gia, ngăn chặn các biểu hiện trục lợi, lạm dụng quỹ BHYT.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU NĂM 2012:

1. Mục tiêu tổng quát:

Phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản của Đề án; tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về chính sách BHYT, đẩy nhanh tốc độ phát triển đối tượng, đảm bảo sự hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội tiếp cận các dịch vụ KCB tiến bộ, tập trung nguồn lực phát triển hệ thống tổ chức y tế, giải quyết có hiệu quả vấn đề quá tải tại các bệnh viện, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, triển khai thực hiện các cơ chế tài chính mới trong thanh toán KCB.BHYT theo quy định, nâng cao vai trò quản lý nhà nước về BHYT của chính quyền các cấp trong tỉnh.

2. Chỉ tiêu cụ thể:

a) Chỉ tiêu phát triển tính theo nhóm đối tượng:

Đơn vị tính: người

Đối tượng tham gia

Dân số

trung bình

Chỉ tiêu

năm 2012

% so dân số

1. Trẻ em dưới 6 tuổi:

300.800

270.000

89,8

2. Người già trên 80 tuổi:

48.300

48.000

99,4

3. Người có công và bảo trợ XH:

22.000

22.000

100

4. Người thuộc hộ nghèo:

175.000

175.000

100

5. Người thuộc hộ cận nghèo:

135.000

135.000

100

6. Học sinh, sinh viên:

364.500

300.000

82,3

7. Đối tượng CB, CC, VC, người LĐ

82.000

82.000

100

8. Đối tượng chỉ tham gia BHYT bắt buộc

15.000

15.000

100

9. Đối tượng BHYT tự nguyện

1.022.000

300.000

29,4

                   Tổng cộng

2.164.600

1.347.000

62,2

 

b) Chỉ tiêu phát triển theo địa bàn huyện:

Đơn vị tính: người

Đơn vị

Dân số

Chỉ tiêu 2012

Đạt % DS

1. Thành phố Long Xuyên

281.350

175.000

62,2

2. Thị xã Tân Châu

173.630

108.000

62,2

3. Thị xã Châu Đốc

112.540

70.000

62,2

4. Huyện An Phú

180.060

112.000

62,2

5. Huyện Châu Phú

247.590

154.000

62,2

6. Huyện Châu Thành

172.020

107.000

62,2

7. Huyện Chợ Mới

347.270

216.000

62,2

8. Huyện Phú Tân

212.220

132.000

62,2

9. Huyện Tịnh Biên

122.180

76.000

62,2

10. Huyện Thoại Sơn

181.670

113.000

62,2

11. Huyện Tri Tôn

133.440

90.000

67,4

Tổng số

2.163.970

1.353.000

62,5

 

c) Đầu tư xây dựng cơ bản, trang thiết bị y tế, nguồn nhân lực cho cơ sở KCB:

Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 1092/QĐ-UBND ngày 22/5/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh  về Quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh tỉnh An Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Sớm đưa vào hoạt động các bệnh viện đã được đầu tư xây dựng mới, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng, mua sắm đã được bố trí vốn trong năm.

Nâng số lượng giường bệnh, bổ sung trang thiết bị phục vụ KCB tại các tuyến y tế trong tỉnh, khắc phục cơ bản tình hình quá tải tại các bệnh viện.

Tiếp tục thực hiện các chủ trương về kiện toàn tổ chức, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao về y dược, tăng cường bác sỹ cho các Trạm Y tế tuyến xã (chưa có bác sỹ); nâng cao năng lực khám và điều trị bệnh tại các tuyến y tế cơ sở.

d) Cơ chế tài chính hỗ trợ đối tượng tham gia BHYT:

Bố trí đủ kinh phí từ ngân sách nhà nước để hỗ trợ mua thẻ BHYT cho các nhóm đối tượng chính sách xã hội, bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo…Bố trí kinh phí hỗ trợ một phần mua thẻ BHYT cho các nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên, người thuộc hộ nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình;

Triển khai thực hiện cơ chế tài chính mới trong thanh toán KCB.BHYT, áp dụng thực hiện thay đổi giá viện phí, giá dịch vụ theo quy định mới đồng thời với việc nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh; khuyến khích việc tăng cường công tác quản lý và điều trị theo phương châm “hiệu quả, tiết kiệm”, tạo nguồn kết dư từ quỹ BHYT để tái đầu tư mua sắm trang thiết bị và cải thiện chế độ làm việc tại các cơ sở KCB.BHYT.

3. Giải pháp tổ chức thực hiện:

a) Về nhận thức:

Hệ thống chính trị trong tỉnh cần nâng cao hơn nữa nhận thức về chính sách BHYT, đó là chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đổi mới nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, xem tuyên truyền chính sách BHYT nằm trong các hoạt động tuyên truyền chính trị. Chuyển tải kịp thời thông tin đến các đối tượng có liên quan trong xã hội.

Các cấp các ngành có liên quan, tiếp tục thực hiện các giải pháp đã đề ra trong Đề án, đảm bảo việc triển khai Đề án đạt kết quả.

b) Đối với Sở Y tế:

Thường trực theo dõi giúp UBND tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu đã nêu trong Đề án; chủ trì phối hợp với các cấp, các ngành quán triệt, triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 14 tháng 02 năm 2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang và Kế hoạch của UBND tỉnh về Phát triển sự nghiệp y tế, nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2015 đến các cơ sở y tế trong tỉnh.

Làm tốt công tác tham mưu đối với UBND tỉnh và hướng dẫn UBND các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT, chủ trì tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHYT trên địa bàn tỉnh.

Đảm bảo triển khai thực hiện các công trình xây dựng cơ bản, cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị trong ngành y tế đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, phát huy hiệu quả trong khai thác, sử dụng.

Xây dựng và triển khai thực hiện các Đề án nhằm khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện, lạm dụng việc sử dụng thuốc trong khám và điều trị BHYT;  phân luồng, phân tuyến trong khám và điều trị bệnh hợp lý để hạn chế quá tải ở các bệnh viện.

Chỉ đạo các cơ sở KCB trong tỉnh, tổ chức tốt công tác KCB, đề cao ý thức quản lý quỹ BHYT, kiên quyết sử lý các hành vi trục lợi quỹ dưới mọi hình thức, triển khai đầy đủ các chủ trương về cải cách hành chính, nâng cao y đức, tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân…của đội ngũ cán bộ, công chức tại cơ sở.

Chủ trì việc phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, BHXH tỉnh xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho các nhóm đối tượng mua thẻ BHYT theo phân cấp, tổ chức việc chuyển trả kịp thời vào quỹ BHYT để thanh toán cho các cơ sở KCB BHYT.

Chủ trì và phối hợp với các cơ sở đào tạo tiếp tục phát triển nguồn nhân lực, thực hiện đào tạo nâng cao, đào tạo mới; thông qua Chương trình 1816 tập huấn chuyển giao kỹ thuật…cho cán bộ, công chức ngành y tế; tiếp tục tăng cường đội ngũ cán bộ y, bác sỹ cho các trạm y tế xã

Tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt công tác đấu thầu thuốc khám chữa bệnh, xây dựng danh mục thuốc tại các tuyến y tế trong khám chữa bệnh nói chung, KCB BHYT nói riêng…

Theo dõi kết quả, tiến độ thực hiện Đề án, kịp thời báo cáo Thường trực UBND tỉnh điều chình, sửa đổi, bổ sung và xử lý những vấn đề vướng mắc trong tổ chức triển khai thực hiện Đề án. Chủ trì công tác sơ kết tình hình thực hiện Đề án trên phạm vi toàn tỉnh trong các năm tiếp theo.

c) Đối với BHXH tỉnh:

Chủ trì và phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách về BHYT, quản lý và sử dụng quỹ BHYT theo quy định của pháp luật trên địa bàn tỉnh.

Tổ chức tốt công tác vận động, tuyên truyền phát triển đối tượng tham gia BHYT; phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, các đoàn thể trong hệ thống chính trị, cơ quan Báo, Đài tổ chức phổ biến chính sách BHYT đến các nhóm đối tượng bằng hình thức tuyên truyền miệng (thông qua hội họp, vận động trực tiếp), xây dựng chuyên mục, chuyên trang trên báo, đài, xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên ở cơ sở…đảm bảo thông tin được chuyển tải kịp thời đến người dân, nhất là vùng nông thôn.

Xây dựng và tổ chức mạng lưới vận động, thu và phát hành thẻ BHYT từng bước theo hướng chuyên nghiệp, vừa đảm bảo công tác quản lý tài chính quỹ vừa đảm bảo thời gian phát hành thẻ để người dân sử dụng khi phát sinh nhu cầu KCB.

Nghiên cứu và sớm đề xuất các nhóm giải pháp gắn trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của hệ thống Đại lý thu BHYT cơ sở, chú ý việc tạo quyền lợi vật chất để kích thích việc tích cực vận động được nhiều bà con tham gia BHYT.

Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, đổi mới về hợp đồng khám chữa bệnh BHYT, công tác giám định, thủ tục thanh toán, quản lý điều tiết quỹ KCB BHYT theo hướng an toàn trong quản lý tài chính, bảo vệ quyền lợi của người tham gia, thuận lợi cho cơ sở KCB BHYT.

Cùng với Sở Y tế tham mưu UBND tỉnh ban hành các hướng dẫn về việc đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu, về cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi…Đề xuất làm thí điểm các mô hình mới trong thanh toán KCB BHYT.

Kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực hoạt động của cán bộ, cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, đáp ứng ngang tầm với xu hướng phát triển BHYT toàn dân trong vài năm tới.

d) Đối với các ngành có liên quan:

- Sở Tài chính, có trách nhiệm thẩm định dự toán kinh phí hỗ trợ mua thẻ BHYT theo quy định của pháp luật và chính sách hỗ trợ tại địa phương, bố trí kinh phí, chuyển nộp vào quỹ BHYT kịp thời để đảm bảo nguồn kinh phí thanh toán cho các cơ sở KCB.BHYT.

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê tỉnh, sớm triển khai thực hiện hoàn thành công tác điều tra hộ nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình, làm cơ sở để bố trí ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần (30%) mệnh giá thẻ BHYT cho đối tượng trong năm 2012 và các năm tiếp theo.

- Sở Giáo dục và Đào tạo, phối hợp với Sở Y tế và BHXH tỉnh, phát triển nhanh BHYT trong học sinh, sinh viên, kiện toàn hệ thống y tế học đường.

- Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các đoàn thể trong hệ thống chính trị tăng cường công tác phối hợp với chính quyền, các ngành có liên quan tổ chức vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên tích cực tham gia BHYT. Tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện ở cơ sở, thu thập các phản ảnh, đóng góp của nhân dân chuyển đến UBND các cấp và các ngành để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.

đ) Đối với UBND các huyện:

Tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 38-CT/TW ngày 7 tháng 9 năm 2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị 43-CT/TU ngày 15 tháng 01 năm 2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới, trong đó đặc biệt chú trọng nội dung “Các cấp chính quyền và các đơn vị khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và từng thời kỳ, phải tính toán, xác định chỉ tiêu về dân số tham gia BHYT, bố trí và công bố chỉ tiêu ngân sách, trong đó nguồn ngân sách nhà nước là chính kết hợp với việc huy động thêm các nguồn ngân sách khác để mua thẻ BHYT cho người nghèo và người được hưởng các chính sách xã hội, hỗ trợ việc mua thẻ BHYT cho người thuộc hộ cận nghèo”; nơi nào chưa đưa nội dung trên vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 tại địa phương thì bổ sung và phải thực hiện nghiêm túc.

Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu của Đề án trên địa bàn huyện; tổ chức giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHYT hằng năm cho UBND các xã, phường, thị trấn trực thuộc; định kỳ kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện; gắn chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHYT vào hệ thống chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về BHYT và tổ chức KCB trên địa bàn; thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHYT, về KCB tại các cơ sở y tế, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.

Chỉ đạo công tác phối hợp, phân công tổ chức thực hiện cho các cấp, các ngành trên địa bàn.

Chính sách BHYT là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước để đảm bảo an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trong năm qua, tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, tỉnh ta đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, hiệu quả từ chính sách BHYT đã giúp cho hằng triệu người dân có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ tiến bộ trong KCB, hỗ trợ về mặt tài chính cho các đối tượng khó khăn, hạn chế tình trạng đói nghèo trong trường hợp không may bị bệnh tật.

Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu xã hội, kết quả đạt được nêu trên còn khá khiêm tốn. Từ nhu cầu và thực tiễn đặt ra, đòi hỏi các cấp, các ngành phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt cả về số lượng người tham gia, chất lượng hưởng thụ mang lại từ chính sách BHYT, để cùng với chính sách BHXH thật sự là trụ cột chính trong hệ thống chính sách an sinh xã hội tại địa phương./.

VP SYT

Các tin đã đưa:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tin nhanh
Skip portlet Portlet Menu
 
Đăng ký trực tuyến
Skip portlet Portlet Menu
 
Đào tạo huấn luyện
Skip portlet Portlet Menu
 
Thông tin hổ trợ
Skip portlet Portlet Menu
 
Thông tin hoạt động
Skip portlet Portlet Menu
 
 
Hình ảnh hoạt động
Skip portlet Portlet Menu
 
 
 
Liên kết website
Skip portlet Portlet Menu
 
Hit counter
Số lượt truy cập: 
0 4 8 1 3 8 1 8
108
 
 
 
@2008 HỆ THỐNG THÔNG TIN PHỤC VỤ Y TẾ - SỞ Y TẾ TỈNH AN GIANG
ĐƠN VỊ CHỦ QUẢN: SỞ Y TẾ AN GIANG
ĐỊA CHỈ: 15 LÊ TRIỆU KIẾT, P. MỸ BÌNH, TP. LONG XUYÊN, AN GIANG
Điện thoại: (076)3 852.640 - Fax: (076)3 856.154. Email: soyte@angiang.gov.vn