Cổng thông tin điện tử sở y tế tỉnh an giang

Thông tin sức khỏe

Những điều cần biết về Bệnh Đái tháo đường

01:29 07/11/2018

Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới năm 2017, toàn thế giới có 429,9 triệu người bị bệnh đái tháo đường (ÐTÐ), có nghĩa là cứ 11 người có 1 người bị ÐTÐ. Tới năm 2045 con số này là 629 triệu, tăng 48%, như vậy cứ 10 người sẽ có 1 người bị bệnh ÐTÐ.

Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm không thích hợp như ăn thức ăn nhanh, nhiều đường, nhiều dầu mỡ, kèm với lối sống ít vận động thể lực ở trẻ em, bệnh ÐTÐ có xu hướng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng.

ÐTÐ là một bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm là tăng gluocse huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, tác động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose huyết kéo dài làm tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau như tim mạch, thận, mắt, thần kinh,…

Bệnh ÐTÐ được phân thành 4 loại như: ÐTÐ type 1, ÐTÐ type 2, ÐTÐ thai kỳ, và các thể đặc hiệu khác do các nguyên nhân khác. Lâm sàng thường gặp là 2  type đầu.

Muốn chẩn đoán được bệnh ÐTÐ phải nhờ xét nghiệm máu như đường máu lúc đói, đường máu bất kỳ, HbA1c hoặc làm nghiệm pháp dung nạp glucose.

Đối với các trường hợp được chẩn đoán tiền ÐTÐ phải đi tầm soát ÐTÐ mỗi năm 1 lần, xem đã bị ÐTÐ chưa, nếu có phải điều trị.

Một số trường hợp phải tầm soát ÐTÐ như người béo phì (BMI ≥ 23kg/m2 hoặc có hơn một trong các yếu tố nguy cơ sau phải đi tầm soát ÐTÐ là:

+ Những người đã được chẩn đoán tiền ÐTÐ

+ Có người thân đời thứ nhất bị ÐTÐ

+ Nữ đã được chẩn đoán ÐTÐ thai kỳ

+ Người có tiền sử bệnh tim mạch, tăng huyết áp  

+ Rối loạn mỡ máu  

+ Người nữ bị buồng trứng đa nang; người ít hoạt động thể lực.

Những người thuộc các đối tượng trên phải đi tầm soát xem có ÐTÐ không, mỗi 3 năm 1 lần, cần làm lại xét nghiệm sớm hơn tùy theo kết quả ban đầu.

Những người không thuộc các nhóm kể trên, nếu lớn hơn 45 tuổi, mỗi năm nên đi xét nghiệm để tầm soát ÐTÐ 1 lần.

Tại sao bệnh ÐTÐ lại nguy hiểm?

Vì đường huyết tăng cao kéo dài sẽ làm hư hại các cơ quan như tim mạch, thận, mắt, thần kinh… có thể gây tàn phế hoặc tử vong.

Tổn thương tim mạch do ÐTÐ gây ra như tai biến mạch máu não (xuất huyết não, nhồi máu não), nhồi máu cơ tim cấp, bệnh mạch máu ngoại biên…

ÐTÐ gây tổn thương mắt như đục thủy tinh thể sớm, tăng nhãn áp, bệnh võng mạc do ÐTÐ. Đây là những bệnh có thể gây mù lòa nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời.

Tổn thương thận do ÐTÐ gây suy thận mạn giai đoạn cuối, có thể cần phải lọc thận suốt đời hoặc thay thế thận.

Các tổn thương ở thần kinh ngoại biên thường gặp như: bệnh nhân có cảm giác đau như kim châm, như đạn bắn hoặc tê như kiến bò hoặc giảm cảm giác, cuối cùng gây mất cảm giác hoàn toàn.

Ở bệnh nhân ÐTÐ thường tổn thương bàn chân như bàn ngón chân bị biến dạng, bị các cục chai, mất cảm giác, nhiễm trùng, đây là biến chứng dễ gây cắt cụt chi nhất làm ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Tuy nhiên, bệnh ÐTÐ type 2 có thể dự phòng, ngăn chặn được. Có tới 70% bệnh nhân ÐTÐ type 2 có thể đề phòng hoặc làm chậm xuất hiện các biến chứng bằng cách tuân thủ lối sống lành mạnh, dinh dưỡng, tập thể dục, sử dụng thuốc hợp lý.

Đối với người đã mắc bệnh  ÐTÐ rồi việc tuân thủ điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ là quan trọng nhất, lưu ý ÐTÐ là bệnh phải điều trị suốt đời. Ngoài ra, đối với bệnh nhân ÐTÐ type 1 phải tầm soát các biến chứng trên mắt, thận 5 năm sau khi được chẩn đoán và sau đó mỗi 1 hoặc 2 năm một lần tùy trường hợp.

Đối với những bệnh nhân ÐTÐ type 2 cần phải tầm soát ngay các biến chứng ngay tại thời điểm được chẩn đoán vì ÐTÐ type 2 thường là bệnh âm ỉ không có triệu chứng gì được phát hiện một cách tình cờ khi đi khám sức khỏe hoặc loét chân không lành. Cũng cần lưu ý thêm đối với ÐTÐ type 1 bệnh nhân phải được điều trị bằng chích insulin suốt đời.

Đối với bệnh nhân ÐTÐ type 2 có thể sử dụng các thuốc viên để điều trị, việc lựa chọn thuốc tùy theo chỉ định của bác sĩ, khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân, bệnh có kèm theo suy tim, suy gan, suy thận không. Đôi khi còn tùy theo kinh tế của bệnh nhân hoặc chi trả của BHYT.

Tóm lại, ÐTÐ là đại dịch trên toàn thế giới của thế kỷ 21, bệnh có thể gặp ở bất kỳ quốc gia nào, bất cứ ai cũng có thể bị bệnh này mặc dù ÐTÐ là một bệnh không lây nhiễm.

Khi mắc bệnh phải tuân thủ theo sự hướng dẫn điều trị của bác sĩ, tuyệt đối không được tự ý điều trị, không tự ý ngưng thuốc hoặc đổi thuốc. ÐTÐ nếu được kiểm soát tốt, bệnh nhân hoàn toàn có một cuộc sống bình thường. Ngược lại, nếu bệnh nhân không tuân thủ điều trị có thể dẫn đến tổn thương các cơ quan như đã kể trên hoặc tác dụng phụ nguy hiểm của thuốc có thể ảnh hưởng đến tính mạng.

Bs. Phạm Ngọc Hoa – BVĐKTT An Giang

 

Văn phòng Sở Y tế An Giang