Cổng thông tin điện tử sở y tế tỉnh an giang

Thông tin sức khỏe

Hỏi đáp về bệnh đái tháo đường

10:16 11/11/2021

Đái tháo đường, hay còn gọi là bệnh tiểu đường, là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa cacbohydrat, mỡ và protein khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao.

Hỏi: Đái tháo đường  là bệnh gì

Trả lời: Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insuline, khiếm khuyết hoạt động insuline hoặc cả hai. ĐTĐ hiện nay được xem là đại dịch trên toàn cầu. Việt Nam được xếp nằm trong 10 quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh nhân ĐTĐ cao nhất thế giới, với tỷ lệ tăng 5,5% mỗi năm và càng trẻ hóa. Đây là bệnh có tỷ lệ tử vong đứng thứ 3 trong các bệnh không lây nhiễm.

Hỏi: Đái tháo đường có biểu hiện như thế nào

Trả lời: Biểu hiện của ĐTĐ thường xuất hiện hội chứng tăng đường huyết với uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều, xét nghiệm đường máu tăng cao thường gặp ở ĐTĐ typ I hay typ II có biến chứng. Có nhiều trường hợp bệnh nhân đến khám với các biến chứng của ĐTĐ như: Nhiễm khuẩn da lâu lành, ngứa vùng sinh dục, nhiễm khuẩn tiết niệu; lao phổi; rối loạn thị lực gây nhìn mờ; giảm dục tình, liệt dương, mãn kinh. Có khi chỉ phát hiện ra bệnh trong tình trạng hôn mê hay khi bệnh nhân đi khám bệnh, làm xét nghiệm kiểm tra đường máu.

Hỏi: Những yếu tố nào gây nguy cơ Đái tháo đường

Trả lời: Có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây ra bệnh ĐTĐ. Đối với ĐTĐ typ1  thường xuất hiện ở trẻ em do tuyến tụy không sản xuất insulin; tiền sử gia đình có người bị bệnh ĐTĐ; các bệnh về tuyến tụy, bị nhiễm khuẩn hoặc bệnh tật. Còn nguy cơ gây ĐTĐ týp 2 thường do thừa cân béo phì; cơ thể suy giảm dung nạp glucose; ít vận động; tuổi tác; chủng tộc. Ngoài ra, còn gặp ở ĐTĐ thai kỳ, bị tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, mắc bệnh gai đen…

Hỏi: Đái tháo đường thường gây ra những biến chứng nào

Trả lời: Phần lớn các ca tử vong của bệnh ĐTĐ là do biến chứng gây ra, nhưng có thể phòng ngừa đươc. Sau đây là những biến chứng thường gặp:

1. Biến chứng cấp: Tăng thẩm thấu do tăng glucose máu, hạ glucose máu, nhiễm toan lactique; nhiễm toan cetone. Những biến chứng này rất nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

2. Biến chứng mạn tính

- Biến chứng vi mạch: Bao gồm bệnh lý võng mạc đái tháo đường, đây là nguyên nhân chính gây mù. Ngoài ra còn gặp các rối loạn chiết quang , rối loạn màu sắc, đục thủy tinh thể, viêm thần kinh thị, liệt cơ vận nhãn, glaucome; Bệnh lý vi mạch thận là nguyên nhân hàng đầu suy thận mạn tiến triển; Biến chứng thần kinh thường phối hợp với bệnh lý võng mạc, bệnh lý thận; bệnh lý thần kinh xa gốc đối xứng gây loét bàn chân.

- Biến chứng mạch máu lớn: Thiếu máu cơ tim im lặng, nhồi máu cơ tim, viêm tắc động mạch chi dưới gây hoại tử khô, viêm xương; tắc mạch bàn chân; cẳng chân, phải cắt cụt chi; tai biến mạch máu não; tắc mạch thận; hậu quả gây tăng huyết áp, suy thận.

- Biến chứng nhiễm trùng: Gây ra lao, nhiễm siêu vi và vi trùng, nhất là nhiễm trùng đường tiểu dai dẳng và tái phát nhiều lần. Ngoài ra, còn nhiễm trùng da và niêm mạc, gây nhọt tụ cầu vàng, viêm âm hộ, viêm bao qui đầu.. Ngoài ra còn gặp các biến chứng khác như tăng huyết áp; nhọt nhiễm trùng, dị ứng da do insuline, phì đại mô mỡ hoặc teo mô mỡ.

Hỏi: Để chủ động phòng chống bệnh đái tháo đường ta cần phải là gì

Trả lời: Để chủ động phòng, chống bệnh ĐTĐ chúng ta cần thực hiện theo khuyến cáo sau:

 - Một  là: Chúng ta cần phải tầm soát ĐTĐ trên những người có yếu tố nguy cơ cao như người ≥ 45 tuổi, đặc biệt BMI ≥ 25kg/m2; gia đình có người thân bị đái tháo đường, bệnh mạch vành, cao huyết áp; phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang, Sinh con > 4kg hoặc có đái tháo đường thai kỳ; lần thử trước có rối loạn đường huyết đói và hoặc có rối loạn dung nạp glucose;   

- Hai là: Đối với phụ nữ có thai, cần sàng lọc để chẩn đoán ĐTĐ ngay từ lần khám trước mang thai cho các đối tượng có nguy cơ và sàng lọc vào thời điểm thai 24-28 tuần;

- Ba là: Một chế độ ăn uống hợp lý, cân đối với đầy đủ các thành phần đường, đạm, mỡ và luyện tập thể lực đều đặn, thường xuyên sẽ giúp phòng mắc bệnh ĐTĐ;

- Bốn là: Đối với những người có yếu tố nguy cơ có thể can thiệp như: béo phì, tăng huyết áp , rối loạn mỡ trong máu…thì cần điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ này;

- Năm là: Khi chưa bị ĐTĐ nên phòng tránh các yếu tố nguy cơ, khi đã mắc bệnh thì nên có một chế độ điều trị tích cực bao gồm chế độ ăn uống hợp lý  phối hợp với chế độ luyện tập phù hợp và sử dụng thuốc theo hướng dẫn của thầy thuốc để hạn chế sự xuất hiện các biến chứng, khi đã có biến chứng xảy ra thì nên kiểm soát đường máu tích cực kết hợp với ổn định huyết áp và tình trạng rối loạn lipide máu để hạn chế tiến triển của biến chứng./.

                                                                                                           Nguyễn Minh Thời

                                                                                                             TTYT Tịnh Biên

 

 

Văn phòng Sở Y tế An Giang