Cổng thông tin điện tử sở y tế tỉnh an giang

Thông tin sức khỏe

Đái tháo đường thai kỳ - những điều phụ nữ mang thai cần biết

09:50 29/03/2021

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mãn tính thường gặp và có tốc độ tăng nhanh trên toàn cầu. Uớc tính đến năm 2020 sẽ có 438 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, trong đó khoảng 50% là người châu Á. Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á với dân số khoảng 94 triệu người có tỷ lệ ĐTĐ típ 2 ngày càng tăng. Năm 2010, tỷ lệ ĐTĐ típ 2 ở Tp.HCM là 10.8% ở nam và 11,7% ở nữ. Cùng với bệnh ĐTĐ, ĐTĐ thai kỳ cũng ngày càng tăng do tuổi sinh đẻ tăng, phụ nữ ngày càng thừa cân, béo phì và ít vận động. Tại Việt Nam, trong một số nghiên cứu gần đây tại các vùng miền khác nhau, thì tỷ lệ này tăng từ 3,9% vào năm 2004 đến 20,3% năm 2012 và 20,9% năm 2017.

1. Vậy ĐTĐ thai kỳ là gì?

Đái tháo thai kỳ là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ đối và không phải là ĐTĐ típ1, típ 2 đã có từ trước đó.

Chẩn đoán: ĐTĐ thai kỳ khi có ít nhất 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:

1. Đường huyết lúc đói: ≥ 5.1 mmol/l (≥ 92 mg/dl)

2. Đường huyết sau 1h: ≥ 10 mmol/l (≥ 180 mg/dl)

3. Đường huyết sau 2h: ≥ 8.5 mmol/l (≥ 153 mg/dl)

2. Ai có nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ?

ĐTĐ thai kỳ có xu hướng hay gặp ở những thai phụ sinh con khi lớn tuổi, thừa cân- béo phì, tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ, tiền sử sản khoa bất thường: sinh con to ≥ 4000g, thai chết lưu không rõ nguyên nhân, tiền sử bất thường về dung nạp glucose, Glucose niệu dương tính, mắc hội chứng buồng trứng đa nang…

3.Ảnh hưởng của ĐTĐ thai kỳ đối với mẹ và thai như thế nào?

Thai phụ mắc ĐTĐ thai kỳ sẽ làm tăng nguy cơ tiền sản giật, sản giật, nhiễm khuẩn tiết niệu, đẻ non, đa ói và nguy hiểm nhất là thai chết lưu trong suốt quá trình mang thai. Ngoài ra, bà mẹ sẽ gặp khó khăn khi chuyển dạ do thai to làm tăng nguy cơ chấn thương cho bé và mẹ trong khi sinh. Trẻ sinh ra có nguy cơ bị hạ đường huyết hoặc mắc các dị tật bẩm sinh nguy hiểm. 

4. Phụ nữ mang thai cần làm gì để hạn chế nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ?

Chế độ dinh dưỡng:

Ăn đa dạng nhiều loại thực phẩm và đảm bảo đủ 4 nhóm: chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất nhằm tăng cường sức khỏe cho bà mẹ và sự phát triển của thai nhi.

- Hạn chế ăn mặn, nhất là những thai phụ có phù, tăng huyết áp, nhiễm độc thai nghén để tránh tai biến khi sinh. Nên sử dụng muốin dưới 5 gam muối/ngày (tương đương 01 muỗng cà phê).

- Không nên dùng rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích như cà phê, thuốc lá, nước trà đặc. Giảm ăn các loại gia vị như ớt, hạt tiêu, tỏi...

- Giảm các thực phẩm, món ăn chế biến sẵn, nước ngọt có ga và không có ga, các loại bánh kẹo, xúc xích, thịt xông khói, giò, chả, bim bim… Tăng cường ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ và vitamin như rau cải, trái cây ít đường.

Vận động và nghỉ ngơi:

- Phụ nữ khi mang thai nên hoạt động nhẹ nhàng và nghỉ ngơi hợp lý. Tuy nhiên, không nên nghỉ ngơi hoàn toàn mà cần có chế độ tập luyện tập thể dục phù hợp, đúng mức như tập các động tác nhẹ nhàng, tập thở sâu, thở đều, co duỗi chân tay ít nhất 30 phút mỗi ngày để hạn chế nguy cơ mắc ĐTĐ thai kỳ và giúp quá trình sinh nở dễ dàng hơn.

Kiểm soát tăng cân trong thai kỳ:

Tùy theo tình trạng dinh dưỡng (chỉ số khối cơ thể BMI =cân năng/(chiều cao)2) trước khi có thai để khuyến nghị mức tăng cân trong thời kỳ mang thai, như sau:

+ Suy dinh dưỡng (BMI <18,5): tăng từ 12,5-18 kg.

+ Bình thường (BMI: 18,5-24,9): tăng từ 11,5-16 kg.

+ Thừa cân (BMI: 25-29,9): tăng từ 7-11,5 kg.

+ Béo phì (BMI ≥ 30): tăng từ 5-9 kg.

Ngoài ra để giảm nguy cơ ĐTĐ thai kỳ cũng cần giảm cân cho đối tượng thừa cân, béo phì trước khi mang thai.

ĐTĐ thai kỳ gây hậu quả rất nghiêm trọng và tác động xấu đến thai nhi và bà mẹ, vì vậy phụ nữ có thai nên tầm soát ĐTĐ thai kỳ từ tuần thai thứ 24 – 28 đây là thời điểm tốt nhất cho phát hiện bất thường chuyển hóa carbonhydrat trong thai kỳ. Đối với các nhóm đối tượng có nguy cơ cao cần tầm soát sớm hơn và nếu kết quả âm tính cần thực hiện lại nghiệm pháp tầm soát vào thời điểm thai 24 – 28 tuần tuổi./.

Bs. Trần Thị Phương Khanh – Trung tâm KSBT An Giang

 

Văn phòng Sở Y tế An Giang