Cổng thông tin điện tử sở y tế tỉnh an giang

Thông tin sức khỏe

Hiểu về I-ốt để bổ sung đúng cách bảo vệ sức khỏe gia đình

02:52 18/11/2021

1. I-ốt là một vi chất thiết yếu để cơ thể sản sinh hormone tuyến giáp:

Hormon tuyến giáp rất cần thiết cho sự phát triển của não bộ và chuyển hóa các tổ chức cơ thể. Mỗi ngày, cơ thể con người cần 150 mcg đến 200 mcg i-ốt. Nếu cung cấp cho cơ thể dưới 150 mcg i-ốt thì gây ra các rối loạn do thiếu i-ốt. Thiếu i-ốt làm tăng tỷ lệ sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, tử vong chu sinh, gây ra đần độn, chậm phát triển trí tuệ, thiểu năng giáp, bướu cổ...

2. Cơ thể có thể thiếu i ốt có thể do 3 nguyên nhân:

a) Cung cấp thiếu so với nhu cầu cơ thể.

b) Do dùng thuốc và đồ ăn cạnh tranh hấp thu i ốt vào cơ thể.

c) Một số bệnh lý bẩm sinh về tuyến giáp.

Do đó Bệnh bướu cổ thường gặp ở người không thường xuyên sử dụng các thực phẩm chứa ít i-ốt, trẻ sơ sinh; trẻ em đang độ tuổi dậy thì, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú…những người mắc các bệnh mạn tính như viêm đại tràng, tiêu chảy kéo dài, ....

Trẻ sơ sinh rất nhạy cảm đối với tình trạng thiếu i-ốt. Trong vùng không thiếu i-ốt, tỷ lệ thiểu năng giáp sơ sinh khoảng 1/3.000-1/4.000 trẻ. Tỷ lệ này tăng dần theo mức độ thiếu i-ốt và lên tới 10 - 15% số trẻ sơ sinh ở vùng thiếu i-ốt nặng.

Khi thiếu I ốt Bà mẹ dễ sảy thai, bào thai bị suy dinh dưỡng; Trẻ em bị trì độn, chậm phát triển thể chất và trí tuệ; Thiểu năng tuyến giáp, bệnh bướu cổ phát sinh và gia tăng… khi bữa ăn hàng ngày của mọi người thiếu I-ốt.

3. Các biện pháp chẩn đoán và điều trị bệnh bướu cổ

Rối loạn thiếu i ốt có các dấu hiệu: Cảm giác hồi hộp đánh trống ngực, hay đỗ mồ hôi, gầy sút cân; lồi mắt; thay đổi giọng nói, thường gặp là khàn giọng; có khối ở cổ, dấu hiệu tại chỗ phụ thuộc vào kích thước của bướu; cảm giác cổ họng luôn bị vướng hoặc đau cổ họng; nuốt khó, nuốt đau; khó thở, thường gặp ở tư thế nằm.

Thăm khám thấy khối lồi ở cổ tương ứng với vị trí tuyến giáp.

Các xét nghiệm để phục vụ chẩn đoán bướu cổ: Xét nghiệm máu phát hiện sự thay đổi hooc-môn tuyến giáp; Siêu âm tuyến giáp; xét nghiệm giải phẫu bệnh: lấy mẫu từ tuyến giáp qua chọc hút kim bằng kim nhỏ hoặc sinh thiết tuyến giáp để xác định bướu lành tính hay ung thư; xạ hình tuyến giáp.

Có 3 loại bướu cổ thường gặp gồm: Bướu cổ lành tính, bướu cường giáp và bướu cổ ác tính. Bướu cổ có mấy loại thì có những cách điều trị khác nhau.

a) Uống thuốc

Sử dụng thuốc giúp đưa hormone tuyến giáp về trạng thái bình thường. Phương pháp này được áp dụng để điều trị bướu cổ có biểu hiện do rối loạn chức năng tuyến giáp hoặc sử dụng sau xạ trị và phẫu thuật tuyến giáp.

b) Phóng xạ iod

Đây là phương pháp sử dụng i-ốt phóng xạ với mục đích làm giảm đi kích thước của tuyến giáp.

c) Phẫu thuật

Là một phương pháp được ưu tiên lựa chọn trong trường hợp ung thư tuyến giáp hoặc các loại bướu cổ có kích thước lớn gây chèn ép cơ quan xung quanh mà điều trị bằng những phương pháp khác không đạt hiệu quả. Tùy thuộc tình trạng, bác sĩ sẽ quyết định phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ tuyến giáp và bệnh nhân phải sử dụng hormon thay thế tuyến giáp sau phẫu thuật nếu có biến chứng suy giáp

4. Sử dụng muối i ốt đúng cách. 

Để bù đắp lượng i-ốt bị thiếu hụt trong thực phẩm, người ta trộn i-ốt vào các gia vị mặn như muối, nước mắm, bột canh, xì dầu....

Muối i-ốt không làm thay đổi mùi vị thức ăn mà hoàn toàn như muối thường; kể cả khi dùng để muối dưa, muối cà cũng phải nên dung muối i-ốt. Lượng i-ốt được trộn vào muối an toàn cho cả người không thiếu i-ốt.

Tuy nhiên, i-ốt trong muối có thể bị hao hụt qua quá trình bảo quản và chế biến (mất khoảng 20% khi chiên hoặc nướng, 50% khi luộc...). Vì vậy, khi dùng muối i-ốt chúng ta hãy lưu ý:

- Chọn bao bì muối i-ốt có nhãn hiệu in rõ ràng, thông tin đầy đủ, bao bì còn nguyên vẹn.

- Giữ muối i-ốt nơi khô ráo, tránh ánh sáng mặt trời, dùng xong buộc kín miệng túi hoặc để muối trong lọ đậy nắp kín để tránh i-ốt bị bay hơi.

- Không rang muối i-ốt.

- Khi ướp thức ăn, bỏ một ít muối i-ốt trước, sau khi nấu chín thì bỏ thêm muối vào cho vừa đủ.

- Nên cho muối i-ốt vào thức ăn sau khi đã nấu chín.

Tóm lại, vì sức khỏe của cộng đồng, vì trí tuệ của thế hệ tương lai, Nhân ngày “Ngày vận động toàn dân mua và sử dụng muối I-ốt 02/11” chúng ta “Không ăn mặn, sử dụng muối i-ốt trong chế biến thức ăn” để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình./.

Ths.Bs Lê Minh Uy - Phó Giám đốc Trung tâm KSBT An Giang

 

Văn phòng Sở Y tế An Giang